Nhật Bản tiến vào Đông Dương thuộc Pháp qua hai giai đoạn. Tháng 9 năm 1940, quân Nhật vượt biên giới vào Bắc Kỳ ngay trong ngày ký thỏa thuận với Pháp và giao tranh với quân Pháp ở biên giới trong đêm đó. Tháng 7 năm 1941, sau khi chính quyền thuộc địa chấp nhận yêu cầu của Nhật, quân Nhật tiến vào miền Nam Đông Dương và bắt đầu chiếm các căn cứ từ ngày 24 tháng 7. Cuộc tiến quân này góp phần dẫn đến lệnh cấm vận dầu của Mỹ ngày 1 tháng 8 năm 1941, đẩy Nhật Bản đến gần hơn với cuộc chiến mà nước này phát động vào tháng 12.
Bài viết thuộc chủ đề Các triều đại Việt Nam và thời Pháp thuộc (1428–1945). Đông Dương thuộc Pháp bao gồm lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia ngày nay. Chính quyền thuộc địa đặt tại Hà Nội vẫn nắm quyền trên danh nghĩa trong phần lớn thời kỳ này, dù Nhật Bản là bên áp đặt các điều kiện.
Hiểu trong 5 phút: Vì sao Nhật Bản tiến vào Đông Dương?
Nhật Bản đã chiến tranh với Trung Quốc từ năm 1937. Phần lớn viện trợ phương Tây đến được chính phủ Tưởng Giới Thạch đi qua Đông Dương thuộc Pháp, trong đó có tuyến đường sắt từ Hải Phòng đến Vân Nam. Tokyo muốn cắt tuyến đường ấy. Nhật cũng muốn có căn cứ gần Đông Nam Á hơn, nơi Anh, Hà Lan và Mỹ nắm giữ các thuộc địa giàu dầu mỏ và cao su.
Thất bại của Pháp trước Đức vào tháng 6 năm 1940 làm vị thế của thuộc địa suy yếu. Ngày 19 tháng 6, Tokyo bắt đầu gây sức ép buộc Toàn quyền Georges Catroux đóng tuyến tiếp tế cho Trung Quốc và ông chấp nhận. Mùa hè năm đó, chính quyền Vichy thay ông bằng Jean Decoux, một sĩ quan hải quân Pháp. Decoux giữ chức đến khi Nhật lật đổ bộ máy cai trị Pháp vào tháng 3 năm 1945 và có rất ít khả năng khước từ Tokyo.
Hai đợt tiến quân diễn ra khác nhau. Ở miền Bắc, quân Nhật cưỡng ép tiến vào và dẫn đến giao tranh ngắn. Ở miền Nam, cuộc tiến quân diễn ra sau một dàn xếp được phía Vichy chấp nhận và hầu như không có chiến sự. Vì vậy, đề thi thường xem đây là hai sự kiện riêng.
Giới hoạch định Nhật Bản coi tuyến đường Đông Dương là cách gây sức ép lên Trung Quốc mà không phải trực tiếp gây chiến với Pháp. Cách tính ấy định hình cả hai đợt tiến quân: ở miền Bắc là đe dọa dùng vũ lực với một thuộc địa đã suy yếu; ở miền Nam là thỏa thuận với chính quyền Vichy có ít khả năng chống cự. Cả hai đều nhằm cắt nguồn tiếp tế cho Trung Quốc và giành căn cứ cho cuộc chiến rộng hơn.
Nhân vật chính
- Georges Catroux, toàn quyền đến mùa hè năm 1940, người chấp nhận yêu cầu đóng tuyến tiếp tế.
- Jean Decoux, sĩ quan hải quân Pháp cai trị thuộc địa cho chính quyền Vichy từ mùa hè năm 1940 đến tháng 3 năm 1945.
- Tướng Maurice Martin, người ký thỏa thuận với Nishihara Issaku ngày 22 tháng 9 năm 1940.
- Nishihara Issaku, nhà đàm phán Nhật Bản đưa ra tối hậu thư ngày 18 tháng 9 năm 1940.
- Matsuoka Yōsuke, ngoại trưởng Nhật Bản phê chuẩn một dự thảo của Pháp vào tháng 8 năm 1940 và rời Bộ Ngoại giao trong đợt cải tổ nội các giữa tháng 7 năm 1941.
- Tominaga Kyōji, sĩ quan quân đội Nhật xuất hiện trong bức ảnh chụp cuộc hội đàm với Decoux năm 1940.
- Yamashita Tomoyuki, người chỉ huy Tập đoàn quân 25 trong chiến dịch Mã Lai bắt đầu ngày 8 tháng 12 năm 1941.
- Terauchi Hisaichi, tư lệnh Tập đoàn quân Viễn chinh phương Nam, được thành lập tại Tokyo tháng 11 năm 1941.
Giai đoạn một: Miền Bắc, tháng 9 năm 1940
Đàm phán về miền Bắc hình thành tại Tokyo vào cuối tháng 8 năm 1940. Ngày 30 tháng 8, Ngoại trưởng Matsuoka Yōsuke phê chuẩn một dự thảo của Pháp, nhưng đến đầu tháng 9 các dàn xếp quân sự tại Hà Nội vẫn chưa ngã ngũ. Quân đội Nhật muốn có lực lượng lớn và các sân bay, đồng thời yêu cầu đưa 25.000 quân vào.
Đàm phán sau đó bế tắc. Ngày 18 tháng 9, Nishihara Issaku đưa tối hậu thư: quân Nhật sẽ vào Đông Dương lúc 10 giờ tối ngày 22 tháng 9, bất kể phía Pháp quyết định thế nào. Ngày 21 tháng 9, yêu cầu về quân số được giảm từ 25.000 xuống 6.000 người.
Phía Pháp nhượng bộ chỉ vài giờ trước hạn chót. Ngày 22 tháng 9, Tướng Maurice Martin ký thỏa thuận với Nishihara, khoảng bảy tiếng rưỡi trước thời hạn. Thỏa thuận quy định khoảng 6.000 quân Nhật đóng tại Bắc Kỳ, phía bắc sông Hồng, và cho phép quân Nhật đi qua Đông Dương. Theo bản điều khoản phía Pháp chuyển đến Washington, Nhật được chiếm đóng và sử dụng ba căn cứ không quân; một lực lượng đầu tiên khoảng 1.000 người sẽ đổ bộ tại Hải Phòng.
Diễn biến này cho thấy Nhật giữ nguyên hạn chót dù giảm yêu cầu về quân số, khiến phía Pháp chỉ còn vài giờ quyết định. Đòi hỏi ban đầu 25.000 người cho thấy tham vọng của giới hoạch định, còn việc giảm xuống 6.000 cho thấy lời đe dọa dùng vũ lực có thể đem lại kết quả đến đâu chỉ trong một tuần.
Thỏa thuận không giải quyết được tình hình tại thực địa. Sư đoàn 5 không chờ các điều khoản có hiệu lực. Đêm 22 tháng 9, các đơn vị của sư đoàn vượt biên giới gần Đồng Đăng và giao chiến với quân Pháp; giao tranh lan sang những đồn biên giới khác. Việc vượt biên và nổ súng trước khi các điều khoản được thi hành đã vi phạm thỏa thuận ký cùng ngày, biến cuộc tiến vào theo thương lượng thành một cuộc tiến quân bằng vũ lực.

Các đơn vị Nhật tiến về Lạng Sơn, nơi có đồn trú Pháp trên tuyến đường sắt sang Trung Quốc. Ngày 24 tháng 9, máy bay từ tàu sân bay Hiryu tấn công các vị trí ven biển của Pháp. Quân đồn trú Lạng Sơn đầu hàng ngày 25 tháng 9 sau khoảng ba ngày giao tranh; cả hai bên đều có tổn thất.
Ngày 25 và 26 tháng 9, quân Nhật đổ bộ tại Đông Tác, phía nam Hải Phòng. Đến đầu giờ chiều, khoảng 4.500 quân và khoảng một chục xe tăng đã lên bờ gần cảng chính của thuộc địa. Đợt tiến vào miền Bắc cơ bản hoàn tất vào cuối tháng 9, còn vấn đề lớn hơn nằm ở miền Nam.
Giai đoạn hai: Miền Nam, tháng 7 năm 1941
Đến giữa năm 1941, Tokyo hướng xuống phía nam. Đàm phán dầu mỏ với Đông Ấn thuộc Hà Lan đã đổ vỡ vào tháng 6, cũng là tháng Đức tấn công Liên Xô. Ngày 2 tháng 7, Hội nghị Ngự tiền thông qua chính sách quốc gia sửa đổi, thúc đẩy tiến xuống phía nam và coi Đông Dương là bước đầu tiên. Giữa tháng 7, một đợt cải tổ nội các đưa Matsuoka rời Bộ Ngoại giao.
Thứ tự các sự kiện tháng 7 đặc biệt quan trọng khi làm bài thi. Đến ngày 23 tháng 7, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã đạt được thỏa thuận với Nhật về việc sử dụng sân bay và hải cảng ở miền Nam. Như vậy phía Pháp đã chấp nhận dàn xếp trước khi việc chiếm đóng bắt đầu.
Theo một bản niên biểu chi tiết về hoạt động hải quân Nhật, quân Nhật bắt đầu chiếm các sân bay và căn cứ ở miền Nam từ ngày 24 tháng 7, trong đó có các sân bay quanh Sài Gòn. Những cuộc đổ bộ chính diễn ra vào các ngày cuối tháng.
Nghị định thư Pháp–Nhật về phòng thủ chung Đông Dương được ký tại Vichy ngày 29 tháng 7 và có hiệu lực ngay hôm đó. Văn kiện chính thức hóa một cuộc tiến quân đã bắt đầu. Chính quyền Pháp vẫn tồn tại, trong khi quân Nhật đồn trú tại các căn cứ phía nam.
Có thể ghi nhớ đợt tiến quân vào miền Nam qua bốn mốc: đạt thỏa thuận trước hoặc vào ngày 23 tháng 7, bắt đầu chiếm đóng ngày 24 tháng 7, ký nghị định thư ngày 29 tháng 7 và Mỹ đáp trả ngày 1 tháng 8. Mỗi bước nối tiếp bước trước.
Đầu tháng 8, lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn Peter Flood báo cáo rằng quân Nhật có từ 40.000 người trở lên và đang đồn trú tại các căn cứ lục quân, hải quân và không quân ở miền Nam. Ông nhận định chủ quyền của Pháp phần lớn chỉ còn trên danh nghĩa. Vì cuộc tiến vào hầu như không có chiến sự, sự kiện này thường được gọi là cuộc chiếm đóng hòa bình.

Đọc bản đồ từ bắc xuống nam: Bắc Kỳ là nơi quân Nhật tiến vào năm 1940; Trung Kỳ nằm ở giữa; Nam Kỳ quanh Sài Gòn là khu vực diễn ra các cuộc đổ bộ năm 1941. Campuchia và Lào là những phần còn lại của Đông Dương thuộc Pháp.
Yamashita Tomoyuki được biết đến nhiều nhất với vai trò chỉ huy Tập đoàn quân 25 trong chiến dịch Mã Lai bắt đầu ngày 8 tháng 12 năm 1941. Chiến dịch này diễn ra sau đợt tiến vào miền Nam và thuộc một giai đoạn riêng; cần phân biệt hai sự kiện khi làm bài thi.
Vì sao lệnh cấm vận dầu được ban hành?
Ngày 26 tháng 7 năm 1941, Tổng thống Roosevelt ký Sắc lệnh hành pháp 8832, phong tỏa tài sản Nhật Bản tại Mỹ và đặt các giao dịch tài chính, thương mại của Nhật tại đây dưới sự kiểm soát của chính phủ. Việc này diễn ra cùng tuần quân Nhật tiến vào miền Nam.
Ngày 1 tháng 8, chính phủ Mỹ thu hồi mọi giấy phép xuất khẩu dầu mỏ còn hiệu lực, ngoại trừ các điểm đến trong một danh sách miễn trừ ngắn. Nhật Bản không nằm trong danh sách đó, nên các chuyến hàng đến Nhật theo giấy phép cũ phải dừng lại; những chuyến hàng sau này cần giấy phép riêng.
Nhật Bản nhập khẩu phần lớn dầu mỏ và Mỹ là nhà cung cấp lớn nhất. Biện pháp tháng 8 vì thế làm gia tăng sức ép vốn đã tích tụ. Với hải quân Nhật, câu hỏi là lượng nhiên liệu dự trữ còn dùng được bao lâu; kế hoạch tiến xuống phía nam của lục quân cũng phụ thuộc vào nguồn cung này.
Washington trình bày các biện pháp trên như sự đáp trả cuộc tiến quân vào miền Nam. Tại Nhật, các biện pháp của Mỹ, Anh, Trung Quốc và Hà Lan được gọi là vòng vây ABCD, một vòng siết quanh đất nước. Cụm từ ấy đặt lệnh cấm vận trong bối cảnh kiềm chế rộng hơn.
Ngày 26 tháng 11, công hàm Hull của Mỹ yêu cầu Nhật rút quân khỏi Trung Quốc và Đông Dương thuộc Pháp. Giới lãnh đạo Nhật quyết định tiến hành chiến tranh. Tuyên chiến của Nhật đề ngày 8 tháng 12 theo giờ Tokyo, sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 tại Hawaii.
Cuộc tiến quân đã thay đổi điều gì?
Tập đoàn quân Viễn chinh phương Nam được thành lập tại Tokyo ngày 5–6 tháng 11 năm 1941 dưới quyền Terauchi Hisaichi để chỉ huy các chiến dịch sắp tới trên khắp Đông Nam Á. Bộ chỉ huy chuyển đến Singapore tháng 9 năm 1942, rồi sau một thời gian ở Manila chuyển đến Sài Gòn tháng 5 năm 1944.
Vấn đề dầu mỏ khiến kế hoạch tiến xuống phía nam trở nên cấp bách hơn. Đàm phán với Đông Ấn thuộc Hà Lan về nguồn dầu đã thất bại vào tháng 6, còn biện pháp tháng 8 làm nhu cầu này thêm khẩn thiết. Lãnh đạo Nhật đứng trước lựa chọn từ bỏ kế hoạch phía nam hoặc giành nguồn cung bằng vũ lực.
Đối với người Pháp, dàn xếp đồng nghĩa với việc quyền kiểm soát giảm đi và sự giám sát từ Tokyo tăng lên. Đối với người Việt Nam, điều đó có nghĩa là sống dưới hai tầng quyền lực ngoại bang. Tháng 3 năm 1945, Nhật lật đổ chính quyền Pháp và trực tiếp nắm quyền. Cuộc đảo chính được trình bày trong bài Chiến dịch Meigō.
Những con số và mốc chính
- 18 tháng 9 năm 1940: tối hậu thư của Nishihara đặt hạn chót là 10 giờ tối ngày 22 tháng 9.
- 21 tháng 9 năm 1940: yêu cầu về quân số Nhật giảm từ 25.000 xuống 6.000 người.
- 22 tháng 9 năm 1940: thỏa thuận Martin–Nishihara cho phép khoảng 6.000 quân ở phía bắc sông Hồng và sử dụng ba căn cứ không quân.
- Đêm 22 tháng 9 năm 1940: các đơn vị Nhật vượt biên giới trước khi điều khoản thỏa thuận có hiệu lực.
- 25 tháng 9 năm 1940: quân đồn trú Lạng Sơn đầu hàng sau khoảng ba ngày giao tranh.
- 25–26 tháng 9 năm 1940: khoảng 4.500 quân và khoảng một chục xe tăng đổ bộ tại Đông Tác.
- 26 tháng 7 năm 1941: Sắc lệnh hành pháp 8832 được ký, phong tỏa tài sản Nhật tại Mỹ.
- 29 tháng 7 năm 1941: nghị định thư Pháp–Nhật được ký tại Vichy và có hiệu lực.
- 1 tháng 8 năm 1941: Mỹ thu hồi các giấy phép xuất khẩu dầu mỏ còn hiệu lực; Nhật không được miễn trừ.
- Đầu tháng 8 năm 1941: lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn báo cáo có từ 40.000 quân Nhật trở lên ở miền Nam.
- 5–6 tháng 11 năm 1941: Tập đoàn quân Viễn chinh phương Nam được thành lập tại Tokyo.
Những điểm thường gặp trong đề thi
Đề thi thường kiểm tra quan hệ nhân quả. Một câu trả lời tốt có thể nối thành chuỗi: chiến tranh với Trung Quốc và các tuyến viện trợ định hình đợt tiến vào miền Bắc; thất bại của Pháp làm quyền lực của Vichy tại thuộc địa suy yếu; đợt tiến vào miền Nam đưa quân Nhật đi sâu hơn vào Đông Dương; phản ứng của Mỹ khiến chiến tranh dễ xảy ra hơn. Đề thường dùng niên biểu hoặc trích đoạn tài liệu, vì vậy cần biết đợt nào xảy ra trước và dựa trên thỏa thuận nào.
- Phân biệt năm 1940 và 1941: lần đầu là cuộc cưỡng ép tiến vào có giao tranh ngắn; lần sau có quy mô lớn hơn và dựa trên dàn xếp được phía Pháp chấp nhận.
- Nhớ tên và ngày của các thỏa thuận: ngày 22 tháng 9 năm 1940 cho miền Bắc và ngày 29 tháng 7 năm 1941 cho nghị định thư về miền Nam.
- Sắp xếp đúng trình tự ở miền Nam: đạt thỏa thuận trước hoặc vào ngày 23 tháng 7, bắt đầu chiếm đóng từ ngày 24 tháng 7, ký nghị định thư ngày 29 tháng 7.
- Xem lệnh cấm vận dầu là phản ứng trước đợt tiến vào miền Nam, không phải nguyên nhân của đợt tiến quân đó.
- Dùng khái niệm vòng vây ABCD để giải thích cách giới lãnh đạo Nhật nhìn nhận sức ép từ phương Tây.
Với bài luận kiểu AP, Đông Dương là một trường hợp để phân tích cách tranh chấp tại một khu vực có thể mở rộng thành chiến tranh trên khắp Thái Bình Dương. Hãy nêu ngày tháng, các thỏa thuận và sức ép kinh tế, rồi đánh giá lệnh cấm vận cùng những quyết định trước đó của chính Nhật Bản đã đẩy nước này đến chiến tranh đến mức nào.
Đọc tiếp
Chiến dịch Meigō (1945), nạn đói và những người lính Nhật ở lại tiếp nối câu chuyện khi Nhật lật đổ chính quyền Pháp. Bài viết giúp bạn tìm hiểu số phận của thuộc địa trong những tháng cuối chiến tranh.
Đông Dương thuộc Pháp (1887–1945) giải thích hệ thống thuộc địa mà hai đợt tiến quân của Nhật diễn ra trong đó, cũng như lý do người Pháp vẫn nắm quyền trên danh nghĩa.
Việt Minh và Cách mạng tháng Tám (1945) theo dõi phong trào độc lập khi phong trào này bước vào khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng.