5 phút nắm diễn biến
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là cuộc đấu tranh nhằm quyết định Việt Nam sẽ độc lập và thống nhất sau thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, hay tiếp tục nằm trong trật tự thuộc địa do Pháp dẫn dắt. Cuộc chiến bắt đầu năm 1946 giữa Pháp và Việt Minh, phong trào giành độc lập do Hồ Chí Minh lãnh đạo, và kết thúc năm 1954 sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ. Thỏa thuận Geneva chấm dứt giao tranh và tạm thời chia cắt Việt Nam, nhưng không giải quyết được ai sẽ lãnh đạo một nước Việt Nam thống nhất.
Để hiểu bối cảnh rộng hơn, hãy xem Tìm hiểu về Chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra trước cuộc chiến sau này và góp phần định hình những điều kiện dẫn đến cuộc chiến đó.
Vì sao chiến tranh bùng nổ
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp cai trị Đông Dương. Trong chiến tranh, Nhật Bản từng bước gạt bỏ quyền lực của Pháp rồi trực tiếp nắm quyền vào năm 1945. Khi Nhật đầu hàng, các nhà lãnh đạo Pháp tìm cách khôi phục vị thế trong khu vực. Trong khi đó, những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã tổ chức phong trào giành độc lập. Việt Minh lớn mạnh qua cuộc đấu tranh chống ách cai trị của Nhật và nhận được sự ủng hộ từ những người muốn chấm dứt chế độ thuộc địa.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội. Pháp không chấp nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam. Hiệp định sơ bộ tháng 3 năm 1946 công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp, nhưng để ngỏ các vấn đề về chủ quyền và hình hài chính trị của đất nước. Pháp cũng muốn duy trì ảnh hưởng trên khắp Đông Dương, còn Việt Minh khẳng định độc lập phải đồng nghĩa với quyền tự quản thực sự.
Đàm phán không thu hẹp được bất đồng đó. Quy chế của Nam Kỳ, vùng phía nam Việt Nam do Pháp trực tiếp cai trị, đặc biệt gây tranh cãi. Giao tranh và khủng hoảng ngày càng chồng chất trong năm 1946. Tháng 12, giao tranh quy mô lớn tại Hà Nội mở đầu cuộc chiến. Quân Pháp kiểm soát các thành phố và tuyến đường lớn, còn Việt Minh dựa vào tổ chức chính trị, sự ủng hộ tại địa phương và lực lượng cơ động ở nông thôn. Xung đột nhanh chóng trở thành cuộc giằng co kéo dài, thay vì một chiến dịch ngắn.
Từ chiến tranh thuộc địa đến xung đột quốc tế
Trong những năm đầu, Việt Minh chiến đấu với đối thủ mạnh hơn dù có ít trang bị thông thường. Lực lượng Việt Minh tổ chức phục kích và phân tán hoạt động, còn quân Pháp tìm cách kiểm soát thị trấn, đường sá và các vị trí chiến lược. Dân thường phải sống giữa sự cưỡng ép, cảnh phải rời bỏ nhà cửa và bạo lực. Chiến tranh diễn ra tại Việt Nam, nhưng những hệ quả chính trị của nó lan sang Lào và Campuchia, hai vùng đất Pháp cũng từng cai trị trong khuôn khổ Đông Dương.
Cục diện quốc tế thay đổi sau năm 1949. Chiến thắng của lực lượng cộng sản Trung Quốc tạo nên một chính quyền láng giềng có khả năng hỗ trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1950, Trung Quốc và Liên Xô công nhận chính quyền của Hồ Chí Minh. Trong khi đó, Pháp ủng hộ Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, như một chính quyền Việt Nam đối trọng. Mỹ tăng viện trợ cho Pháp và các lực lượng liên kết với Pháp, ngày càng nhìn cuộc xung đột qua lăng kính Chiến tranh Lạnh đang hình thành.
Điều đó không biến chiến tranh thành một cuộc đối đầu ủy nhiệm đơn thuần. Mục tiêu và lựa chọn chính trị của người Việt vẫn giữ vai trò trung tâm. Việt Minh muốn giành độc lập và thống nhất đất nước; Pháp muốn duy trì ảnh hưởng và một cơ cấu chính trị phù hợp với Liên hiệp Pháp; Quốc gia Việt Nam đưa ra yêu sách cạnh tranh về việc đại diện cho đất nước. Các cường quốc bên ngoài tác động đến nguồn lực và ngoại giao, nhưng không xóa đi những mối quan tâm tại chỗ đó.
Chiến tranh cũng thay đổi khi vượt ra ngoài cuộc tranh giành quyền kiểm soát các thành phố. Quan chức Pháp cố xây dựng một nhà nước Việt Nam có tính chính danh nhưng vẫn gắn với Pháp, trong khi các tổ chức Việt Minh tìm cách mở rộng quyền lực chính trị và phạm vi hoạt động quân sự tới các huyện nông thôn. Vì vậy, quyền kiểm soát không chỉ được đo bằng việc nắm giữ một thành phố hay con đường. Lòng trung thành, bộ máy hành chính, nguồn tiếp tế và khả năng bảo vệ hoặc gây sức ép lên cộng đồng địa phương cũng rất quan trọng. Với người dân sống trong chiến tranh, ranh giới giữa hoạt động quân sự và sinh hoạt hằng ngày thường mờ nhạt.
Gọi đây là chiến tranh thuộc địa và xung đột Chiến tranh Lạnh đều phản ánh những khía cạnh có thật, nhưng mỗi cách gọi riêng lẻ đều chưa đủ. Lăng kính thuộc địa giải thích nỗ lực duy trì quyền lực của Pháp sau thời kỳ cai trị trước chiến tranh; lăng kính Chiến tranh Lạnh giải thích vì sao các chính phủ bên ngoài bắt đầu hỗ trợ về nguồn lực và ngoại giao. Không cách gọi nào thay thế được vai trò của những lựa chọn và khát vọng từ phía người Việt. Tách bạch các lớp nguyên nhân này giúp giải thích vì sao chiến tranh lan rộng mà không biến nó thành một cuộc đấu tranh hoàn toàn do các thế lực bên ngoài điều khiển.
Điện Biên Phủ và bước ngoặt của cuộc chiến
Tháng 11 năm 1953, quân Pháp lập một cứ điểm phòng thủ tại Điện Biên Phủ, một thung lũng hẻo lánh ở tây bắc Việt Nam. Các chỉ huy Pháp hy vọng dụ lực lượng Việt Minh vào một trận đánh mà họ có thể tiếp tế và giành chiến thắng nhờ không quân. Nhưng Việt Minh đưa pháo binh và nguồn tiếp tế vào vùng đồi núi xung quanh rồi bao vây cứ điểm. Việc vận chuyển vũ khí hạng nặng qua địa hình hiểm trở đòi hỏi nhiều công sức và hậu cần.
Cuộc vây hãm bắt đầu ngày 13 tháng 3 năm 1954. Pháo binh Việt Minh phá hỏng đường băng và cô lập quân đồn trú, khiến việc tiếp tế ngày càng khó khăn. Giao tranh kéo dài gần hai tháng. Cứ điểm thất thủ ngày 7 tháng 5. Binh lính Pháp bị bắt, còn khả năng tiếp tục chiến tranh theo những điều kiện cũ của Pháp suy giảm nghiêm trọng.
Điện Biên Phủ có ý nghĩa cả về quân sự lẫn ngoại giao. Hội nghị Geneva khai mạc vào ngày hôm sau khi cuộc vây hãm bắt đầu. Thất bại của Pháp đã làm thay đổi bầu không khí đàm phán về ngừng bắn và tương lai của khu vực. Trận thua không tự nó tạo ra một giải pháp chính trị hoàn chỉnh, nhưng khiến Pháp khó duy trì ách cai trị hơn nhiều.
Thỏa thuận Geneva năm 1954
Hội nghị Geneva bàn về Việt Nam, Lào và Campuchia. Các thỏa thuận tháng 7 năm 1954 sắp xếp việc ngừng bắn và tập kết lực lượng. Tại Việt Nam, một giới tuyến quân sự gần vĩ tuyến 17 tạm thời phân chia lực lượng: Việt Minh chuyển ra miền Bắc, còn các lực lượng liên kết với Pháp tập kết ở miền Nam. Giới tuyến này được xác định rõ là tạm thời, không phải biên giới quốc tế.
Tuyên bố cuối cùng của hội nghị dự kiến tổ chức tổng tuyển cử trên toàn quốc vào năm 1956 để quyết định tương lai chính trị của Việt Nam. Mỹ không tán thành tuyên bố đó, và cuộc bầu cử dự kiến đã không diễn ra. Lào và Campuchia có những thỏa thuận riêng, trong đó các mục tiêu được nêu ra gồm trung lập và hạn chế sự can dự quân sự từ nước ngoài. Vì thế, thỏa thuận đã kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất mà chưa giải quyết được câu hỏi cốt lõi về sự thống nhất và chính quyền tại Việt Nam.
Pháp rút khỏi cuộc chiến, nhưng tình trạng chia cắt Việt Nam vẫn tiếp diễn. Những tranh chấp chính trị và cam kết quốc tế sau đó góp phần định hình Chiến tranh Việt Nam. Có thể thấy rõ mối liên hệ này khi xem hai cuộc chiến là những xung đột riêng biệt nhưng có liên quan: cuộc chiến thứ nhất chấm dứt chiến tranh thuộc địa của Pháp, còn cuộc chiến thứ hai phát triển từ cuộc đấu tranh chưa được giải quyết về tương lai Việt Nam.
Nội dung thường được hỏi trong bài thi
Khi làm câu hỏi lịch sử thế giới hoặc theo dạng AP, hãy nắm chắc trình tự: Nhật Bản cai trị Đông Dương cho đến khi thất bại năm 1945; Pháp tìm cách khôi phục vị thế; Việt Minh đấu tranh giành độc lập; chiến tranh bắt đầu năm 1946; thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954 diễn ra trước thỏa thuận Geneva. Đừng gọi giới tuyến tạm thời là biên giới quốc tế lâu dài. Nguyên nhân cốt lõi là xung đột chưa được giải quyết về chủ quyền và thống nhất đất nước, còn Chiến tranh Lạnh làm thay đổi mức độ hỗ trợ từ bên ngoài dành cho các bên.
Có thể trả lời ngắn gọn như sau: Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chấm dứt ách cai trị của Pháp tại Đông Dương, nhưng thỏa thuận năm 1954 để ngỏ sự thống nhất chính trị của Việt Nam. Sau đó, hãy nêu bằng chứng: sự phân chia quân sự chỉ mang tính tạm thời và cuộc bầu cử dự kiến vào năm 1956 đã không diễn ra.
Đọc tiếp
Việt Minh và Cách mạng Tháng Tám giải thích về phong trào và các sự kiện dẫn đến cuộc chiến. Trận Điện Biên Phủ kể chi tiết về cuộc vây hãm mang tính quyết định năm 1954. Hiệp định Geneva và vĩ tuyến 17 phân tích thỏa thuận chấm dứt giao tranh nhưng vẫn để ngỏ tương lai Việt Nam.